BIỆN PHÁP THI CÔNG TÔ TRÁT NHÀ PHỐ BIỆT THỰ

04/04/2024
1913
KMG Việt Nam

1. Trình tự công việc

1.1 Chuẩn bị / Sử dụng vữa

  • Vữa phải được phối trộn cẩn thận và chuẩn bị với số lượng nhỏ vừa đủ theo yêu cầu.
  • Xi măng và cát phải được trộn đúng cách trong máy trộn hoặc trạm trộn cho đến khi đạt được màu đồng nhất, và lưu ý phải thêm lượng nước chính xác để đạt được khả năng làm việc.
  • Thời gian trộn tối thiểu từ 1 đến 2 phút sau khi thêm nước - phải được kĩ sư giám sát kiểm tra kịp thời cho từng mẻ trộn.
  • Vữa trộn phải được sử dụng trong vòng 60 phút; Vữa trộn nếu không sử dụng trong vòng 60 phút sẽ bị loại bỏ.
  • Tất cả các bề mặt phải được làm sạch hoàn toàn, không có bụi và bất kỳ tạp chất nào khác.
  • Tất cả các bề mặt gạch phải được làm ẩm trước khi trát.

1.2.    Độ dày của lớp tô trát 

  • Chiều dày lớp tô trát cho tường gạch bên thông thường là 15mm.
  • Chiều dày lớp tô trát tường gạch bên ngoài thông thường là 20 mm.

1.3.    Bố trí đường mực

  • Có hai loại đường mực, loại đầu tiên là đường cơ sở và loại còn lại là đường gióng song song.
  • Đường cơ sở là mặt tường và đường gióng song song được đặt tại bề mặt điều chỉnh dựa trên đường mực tại các tầng khác.

H1. Chi tiết định vị đường cơ sở và đường gióng song song

H2. Định vị đường mực cho tường nội thất

H3. Định vị đường mực cho tường ngoại thất

1.4.    Đóng lưới chống nứt

  • Lưới thép được đóng tại vị trí giữa 2 vật liệu khác nhau.
  • Lưới thép được đóng cho các tường nội thất lẫn tường ngoại thất

H4. Chi tiết dóng lưới chống nứt cho vị trí giao giữa 2 loại vật liệu

H5. Đóng lưới chống nứt cho mặt tường nội thất

H6. Đóng lưới chống nứt cho mặt tường ngoại thất

1.5.    Thi công mốc ghém

  • Lắp đặt mốc ghém trên bề mặt tường bên ngoài / bên trong để xác định  bề mặt hoàn thiện của tường và cũng xác định độ dày của lớp trát bên ngoài / bên trong.
  • Mốc ghém phải được lắp đặt bằng cách sử dụng miếng vữa dán lên bề mặt tường với kích thước 40 x 40 mm, với điểm ngoài cùng của nó cho thấy bề mặt hoàn thiện tường sau khi trát bên ngoài/ bên trong.
  • Có thể sử dụng máy laser để định vị bề mặt mốc ghém.
  • Việc thi công bề mặt mốc ghém phải được thực hiện bằng cách sử dụng dây dọi gióng song song và cách 300 mm so với bề mặt tường hoàn thiện bên ngoài / bên trong.
  • Mốc ghém được đặt:

+    Theo phương đứng: 3 vị trí tường – trên, giữa, dưới.
+    Theo phương ngang: vị trí cửa, góc.
+    Khoảng cách giữa các mốc ghém liền kề nhỏ hơn 1,5m.

H7. Chi tiết thi công mốc ghém

 

H8. Thi công mốc ghém cho mặt tường nội thất

 

H9. Thi công mốc ghém cho mặt tường ngoại thất

  •  Trong trường hợp kết cấu bê tông bị dôi ra ≥ 20mm so với yêu cầu bản vẽ, cần đục bê tông thừa với sự cho phép của Tư vấn giám sát và sau đó quét Sika Monotop 610 trước khi trát lấy lại mặt phẳng.

H10. Xử lý kết cấu bê tông bị phình để lấy lại bề mặt tô trát cho tường ngoại thất

1.6.    Xử lý bề mặt trước khi tô

  • Tất cả các bề mặt phải được làm sạch hoàn toàn, không có bụi và bất kỳ chất độc hại nào khác trước khi trát xi măng.
  • Làm ẩm bề mặt tường gạch bằng cách phun nước.

H11. Tưới nước cấp ẩm cho mặt tường nội thất trước khi tô trát

 

H12. Tưới nước cấp ẩm cho mặt tường ngoại thất trước khi tô trát

 

1.7.    Thi công tô vữa cho tường bên ngoài / bên trong

  • Tô tường ngoài dày 20mm thường được chia làm hai lớp (10mm thk / lớp). Lớp phủ đầu tiên sẽ được thi công bằng bay thô để kết nối với lớp thứ hai.
  • Ở một số vị trí đặc biệt, lớp tô ngoài cần có chiều dày lớn hơn 20mm (khoảng 40 ~ 50mm). Chúng ta sẽ trát từng lớp với chiều dày 9-15mm mỗi lớp. Gắn lưới thép trước khi trát lớp cuối cùng cho dính và tránh bề mặt bị nứt.
  • Thời gian chờ của mỗi lớp trát là 24 giờ.

H13. Chi tiết trát tường ngoại thất với 3 lớp cho vị trí đặc biệt

  •  Tô tường trong dày 15mm thường được thi công trong một lớp.
  • Côn tác tô trát được thi công theo các đợt không vượt quá 15m2  mỗi khu vực và có các ron ngắt liên kết xung quanh các đợt tô.
  • Bề mặt phải được san bằng bằng bàn xoa gỗ và hoàn thiện bằng bay thép.
  • Dọn dẹp và loại bỏ các vật liệu thừa khi hoàn thành thi công mỗi ngày
  • Sau khi tô trát lớp cuối cùng, cần đánh dấu vị trí của đường rãnh để cắt trong khi vữa chưa cứng lại. Sử dụng bay cắt rãnh chuyên dụng để giúp cắt rãnh được dễ dàng. Đường rãnh phải hoàn thiện đẹp mắt và thẳng thớm.

​​​​H14. Dụng cụ thi công cắt đường ron trên lớp tô t ường.

H15. Chi tiết đường cắt rãnh cho tường ngoại thất

H16. Tô trát tường ngoại thất gồm lớp 1 và lớp 2 cho các vị trí thường

1.8.    Bảo dưỡng

  • Điều kiện ẩm ướt phải được duy trì, sử dụng phun sương mịn.
  • Lớp tô cuối cùng được tưới nước để cấp ẩm và bảo dưỡng trong tối thiểu ba ngày kể từ ngày hoàn tất thi công

H17. Tưới nước bảo dưỡng bề mặt tường tô

CÁM ƠN QUÝ ĐỘC GIẢ ĐÃ QUAN TÂM VÀ THEO DÕI BÀI VIẾT CỦA VIETCONS.EDU.VN !

Các bạn có thể liên hệ trực tiếp Fanpage (https://www.facebook.com/VietConsEducation) của trung tâm để đặt câu hỏi. Chúng tôi sẽ giải đáp thêm cho bạn.


Quét mã QR 

 

 

 

Bài viết liên quan

05/03/2025
Bài viết hướng dẫn cách xác định chiều dài tính toán (hoặc hệ số chiều dài tính toán) đối với cấu kiện chịu nén có tiết diện không đổi trong khung một tầng hoặc nhiều tầng với một nhịp hoặc nhiều nhịp cũng như cột tiết diện thay đổi dạng bậc hoặc thanh cánh của giàn, dùng cho bài toán ổn định đối với cấu kiện chịu nén trong khung được đề cập trong TCVN 5575:2024.
05/03/2025
Giải thích câu hỏi: Ý nghĩa của phân nhóm kết cấu theo phụ lục A của TCVN 5575-2024
05/03/2025
Giải thích câu hỏi: Vì sao TCVN 5575-2024, mục 4.7.2 phân loại cấu kiện theo trạng thái ứng suất – biến dạng?
05/03/2025
Bài viết so sánh hướng dẫn cách xác định cường độ thép tính toán theo tiêu chuẩn mới nhất TCVN 5575-2024
05/03/2025
TCVN 5575:2024 là phiên bản mới nhất của tiêu chuẩn thiết kế kết cấu thép, được ban hành vào ngày 24/12/2024, thay thế cho TCVN 5575:2012. Phiên bản này được biên soạn dựa trên tiêu chuẩn Liên bang Nga SP 16.13330.2017 và bổ sung từ SP 294.1325800.2017 nhằm hài hòa với các tiêu chuẩn quốc tế. Việc cập nhật giúp nâng cao tính an toàn, tối ưu hóa thiết kế và cải thiện khả năng thi công.